Các bệnh thường gặp ở Gà Đông Tảo con và cách phòng chống

Gà đông tảo con là loại gà có giá trị kinh tế cao nhưng năng suất kém do đặng tính của loại gà này là khó nuôi, vụng về. Nên khi chăm sóc cho chúng cần chú ý rất kỹ và cẩn thận, đặc biệt chú ý trong các bệnh thường gặp ở gà đồng tảo và cách phòng chống để đạt được hiệu quả kinh tế cao

FullSizeRender

Gà mẹ của sieuthigadongtao.com thả vườn có sức khỏe và khả năng sinh sản tốt (ảnh minh họa)

 

1. Bệnh mổ cắn (canibalizm) là thói quen  khi mua gà đông tảo giá rẻ tphcm:

Các kiểu bệnh mổ căn ở gà đông tảo:

– Mố cắn hậu môn (ven picking): Gà đẻ nhiều quá làm dãn dạ con hoặc gà mới vào đẻ, trứng hơi to cũng làm cho lòi dom. Khi niêm mạc dạ con lòi ra, màu hồng kích thích gà khác

mổ cắn vào làm chảy máu, màu đỏ càng quyến rũ gà xúm lại mổ làm cho lòi cả ruột rồi chết.

–  Mổ cắn đứt lông (Feather pulling): ở gà nuôi nhốt không được vận động, dinh dưỡng và khoáng không đủ gây nên hiện tượng gà mổ lông nhau, quanh ống chân lông bị mổ có sắc tố tập trung tạo hình màu nâu sẫm.

–  Mổ cắn ngón chân (Toe picking) : Thường xảy ra với gà con trước hết do bị đói vì thành máng cao, để xa, thiếu máng, con bé yếu bị con to chèn. Khi không tìm được thức ăn, gà sẽ mổ chân mình hoặc chân con khác.

–  Mổ cắn trên đầu (Head picking): Khi ở mào, tích có vết thương là bị gà khác mổ cắn tiếp. Gà nuôi nhốt lồng hay mổ cắn tích, mào, đầu. Gà đông tảo con đã cắt mỏ, nhốt ở lồng khác vẫn nhoài đầu ra ngoài với tới mổ cắn gà nhốt bên cạnh.

Một tập hợp khá nhiều nguyên nhân gây ra bệnh mổ cắn: ăn thức ăn viên; Lượng ngô quá nhiều trong thức ăn; Thiếu máng ăn, máng uống; Gà nhịn đói lâu; Thiếu ổ đẻ và ổ đẻ đặt nơi quá sáng; Nhốt chật quá; Thức ăn thiếu chất dinh dưỡng và thiếu khoáng; Bị kích thích do ngoại ký sinh trùng: mạt, rận… Khi đã có một số con mổ cắn nhau, đàn gà tiếp tục thói quen đó không cần có sự kích thích nào khác.

Khắc phục bệnh mổ cắn bằng các biện pháp:

Tìm nguồn thức ăn chất lượng tốt;

Cho ăn đủ không để gà đói lâu (kể cả phương thức thả và cho ăn thêm) ;

Cho ăn thêm rau đối với gà nhốt và gà thả;

Đủ máng ăn uống;

Không nhốt quá chật;

Đảm bảo chuồng thông thoáng, tránh ánh sáng mạnh quá, gây kích thích cho gà;

Nuôi đàn đông cần cắt mỏ.

Khi gà bị vết thương do mổ cắn lấy thuốc xanh Methylen bôi vào, không bôi thuốc đỏ vì màu đỏ kích thích làm gà tiếp tục mổ cắn.

 

2. Bệnh newcastle

 Triệu chứng:

Bệnh thường xảy ra vào mùa đông ở mọi lứa tuổi. Gà ủ rũ, bỏ ăn, khó thở (khò khè), có nhiều rãi, mào tím, khát nước, đi ỉa chảy, phân lỏng, quánh nhớt màu trắng có lẫn máu, mùi tanh khó chịu. Bệnh kéo dài thể hiện triệu chứng thần kinh như ngoẹo đầu và cổ. Gầy sút nhanh, đi vòng tròn, thường chết sau 5-7 ngày.

Biểu hiện:

Xuất huyết nặng ở đường tiêu hoá, rõ rệt nhất ở dạ dày tuyến. Niêm mạc đường hô hấp xung huyết, có nhiều dịch nhầy từ thanh quản tới các phế quản nhỏ, túi khí đục và dầy lên, tim xuất huyết.

Cách phòng trị:

Thực hiện nghiêm ngặt lịch tiêm phòng, khi gà được 03 ngày tuổi và 21 ngày tuổi dùng vaccine Lasota nhỏ mũi, mắt. 2 tháng tuổi tiêm vaccine Newcastle hệ I. Không nên mua gà từ nguồn gà đông tảo chưa tiêm phòng, gà không rõ nguồn gốc về nuôi. Nuôi cách ly gà mới mua về.

 

3. Bệnh gumboro ở gà đông tảo

 Triệu chứng: 

Thể lâm sàng: Ở gà 3-6 tuần tuổi và có thể trên 10 tuần tuổi. Biểu hiện đầu tiên là cơ vòng hậu môn luôn co bóp, sốt cao, bỏ ăn và khát nước, sau ỉa chảy, gà chết cao nhất ở ngày thứ 3 sau đó giảm hẳn mà không cần can thiệp. Phân loãng có màu trắng, lẫn máu; gà ủ rũ, lông xù, xã cánh, nằm quẹo rồi chết.

Thể ẩn thường xảy ra ở gà dưới 03 tuần tuổi gây suy giảm miễn dịch. Vì thể hiện lâm sàng không rõ nên dễ nhầm với các bệnh khác nhất là bệnh Newcastle.

Biểu hiện: 

Giai đoạn đầu túi Fabricius sưng rất to, sau teo lại có nhiều dịch nhầy màu trắng, có nhiều điểm và vệt xuất huyết. Thận sưng và xuất huyết sau đó ruột và dạ dày tuyến xuất huyết nên dễ nhầm với bệnh Newcastle. Giai đoạn cuối xuất hiện từng vệt xuất huyết ở cơ đùi và cơ ngực.

Cách phòng trị:

Mua gà con từ những đàn gà mẹ đã tiêm phòng bệnh Gumboro. Nuôi cách ly gà mới nhập.

Nuôi gà tập trung trong dân tốt nhất nên dùng vaccine nhỏ mắt, cho uống hay tiêm dưới da vào 1 ngày, 7 ngày và 14 ngày tuổi. Những nơi trước đây đã có dịch nên tiêm phòng liều thứ tư vào 21 ngày tuổi.

Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh Gumboro.

 

4. Bệnh hô hấp mãn tính ở gà đông tảo 

Triệu chứng: 

Gà mắc bệnh thường ủ rũ, kém ăn và chậm lớn. Triệu chứng bệnh thể hiện rõ rệt như hắt hơi, ho, thở khò khè (hen), thở khó.

Bệnh lý: 

Viêm khí quản mãn tính nên niêm mạc bị xung huyết. Viêm túi khí nếu kết hợp với E.Coli thì túi khí đục có dịch nhầy quánh như bã đậu, tim sưng to.

Cách phòng trị:

Nhập gà giống từ nguồn gà sạch bệnh

– Vệ sinh tốt chuồng trại đảm bảo thoáng mát vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông và khô ráo vào mùa mưa.

– Có thể dùng một số kháng sinh để phòng và chữa bệnh như: Tylosulfa, Tyamulin, Suanovil-5, CRD stop, Gentatylo… Một tháng sử dụng 2 lần mỗi lần 3 ngày liền theo liều phòng bệnh. Chỉ dùng vaccine phòng cho gà giống quý vì giá vaccin quá đắt.

 

5. Bệnh bạch lỵ

Triệu chứng:

Gà con bỏ ăn, ủ rũ, lông xơ xác, nằm chết chất đống trong chuồng, tỷ lệ mắc bệnh cao tới 40%. Triệu chứng điển hình là ỉa phân trắng. Phân dính vào lông quanh hậu môn. Gà con mắc bệnh còi cọc, chậm lớn và thường bị què do viêm khớp. Trứng bị nhiễm Salmonella có tỷ lệ ấp nở thấp. (Salmonella là vi khuẩn gây ra bệnh bạch lỵ)

Bệnh lý: 

Gan và lách sưng to có điểm hoại tử, rốn bị sưng, túi lòng đỏ chưa tiêu. Tim, phổi có những nốt sần màu xám. Kết tràng, mang tràng chứa dịch nhầy quánh như bã đậu. Gà lớn mang trùng thì buồng trứng biến dạng méo mó, viêm bao tim, viêm màng bụng, viêm khớp.

Cách phòng trị:

– Gà đông tảo giống hay trứng phải được nhập từ trại gà không có bệnh. Tiêu độc máy ấp vào trứng trước khi đem ấp.

– Dùng thuốc phòng bệnh ngay sau khi gà mới nở. Có thể sử dựng một trong số các loại thuốc sau: Chlortetra-C 5g/3kg thức ăn, Ampi-septol 4g/2kg thức ăn, Gentacostrim 1g/2lít nước uống.

 

6. Bệnh tụ huyết trùng (Pasteurellosis)

Bệnh tụ huyết trung ở gà đông tảo là bệnh truyền nhiễm lây lan cấp tính hay mãn tính ở gia cầm do vi khuẩn thuộc họ Pasteurella gây ra. Vi khuẩn này tồn tại trong thiên nhiên nhất là các vùng ao tù, ngòi lạch nước đọng, có khi ngay cả trong cơ thể gia cầm khoẻ mạnh, đặc biệt là gia cầm nuôi thả như gà Ri . . . khi sức đề kháng của gà bị giảm thì bệnh phát sinh.

Gà bị bệnh do thả chung đàn gà khoẻ có gà ốm tiếp xúc, thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh, vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gà qua các vết xước ở da.

Bệnh lý:

– Thể quá cấp tính (ác tính) gà chết đột ngột không kịp thể hiên triệu chứng gì. Có khi gà đang ăn, đang ấp lăn ra chết, chỉ kịp giãy đập vài cái và kêu “quắc” . . .

– Thể cấp tính: Gà ủ rũ, sốt, bỏ ăn, xù lông, chậm chạp mào tích xanh tím, miệng có dãi, nhớt đục, sùi bọt, thở khò khè, phân loãng màu nhạt, sau chuyển màu xanh sẫm có lẫn dịch nhầy. . . Gà chết sau 24-72 giờ do kiệt sức, ngạt thở, tỷ lệ chết cao lên đến trên 50%. ở gà có hiện tượng liệt duỗi thẳng chân.

– Thể mãn tính: Gà ỉa chảy kéo dài, gầy, có khi bị sưng khớp, què, đẻ kém, tích sưng to còn gọi là bệnh tích sưng… Có hiện lượng khó thở có tiếng ran ở khí quản.

Bệnh lý ở thể cấp tính cho thấy có hiện tượng tắc rối loạn tuần hoàn ở gà bệnh, xung huyết nội tạng, xuất huyết từng đám ở cổ, đầu tim, thanh mạc phổi, mỡ bụng, niêm mạc ruột. Viêm màng bao tim. Gan sưng màu nâu vàng.

Phòng và chữa bệnh:

Bệnh tụ huyết trùng là một trong các bệnh thường gặp ở gà đông tảo nên việc phòng là biện pháp tích cực, hiệu quả nhất với bệnh tụ huyết trùng. Không đưa gà, vịt, ngan lạ về nuôi hoặc giết mổ trong khu chuồng trại chăn nuôi. Nếu mua giống về nuôi phải chọn nơi an toàn dịch, đưu gà về nhốt riêng 7-10 ngày sau khoẻ mạnh mới thả chung vào đàn.

Dùng kháng sinh nhẹ định kỳ: Tetracilin 250 g/tấn thức ăn, hoặc Furazolidon 300 g/tấn thức ăn, liên tục cho ăn trong 5 ngày; Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng bằng thức ăn có chất lượng, gà nuôi thả tăng lượng thức ăn cho ăn thêm. Lúc có dịch chọn loại xử lý gà ốm, gà chết, tách đàn gà khoẻ nhốt lại không thả, tăng cường vệ sinh, chăm sóc đàn gà bằng thức ăn, nước uống đầy đủ; Gà ốm có thể điều trị : S treptomycin 120- 150 mg/kg thể trọng kết hợp với liều Penicillin 150 mg/kg thể trọng hoặc Chlortetracyclin 40 mg/kg thể trọng gà.

Trên đây là một số các bệnh thường gặp ở gà đông tảo mà các bạn cần biết cách phòng tránh cho đàn gà của mình. Hy vọng với những điều mà các bạn đọc được sẽ giúp cho đàn gà của bạn phát triển và đạt hiệu quả kinh tế cao. Tương lai nhu cầu về gà đông tảo ngày càng lớn, hứa hẹn nhiều cơ hội trong việc chăn nuôi gà đông tảo. Ngay tại thời điểm này khi tết nguyên đán năm 2015 đang tới gần thị trường gà đông tảo đang rất sôi nổi với nhiều cặp gà đông tảo được định giá tới hơn 35 triệu một con.

 

Chúc các bạn chăn nuôi tốt cho đàn gà của mình!

ĐT 0123 9998999

Theo blog Gà đông tảo thuần chủng giá rẻ tphcm

Share on Google Plus

Ý KIẾN CỦA BẠN

Your email address will not be published. Required fields are marked *